Để học tốt Văn miêu tả ở tiểu học
|
||
|
Để làm tốt một bài VMT, HS phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học cộng với vốn sống thực tế. Tuy nhiên, kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế của HS tiểu học hiện còn nhiều lỗ hổng. Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, chưa từng được đến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác, … Nhiều HS ở thành phố chưa hề được nghe/nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng, được quan sát cánh đồng lúa lúc xanh mướt đương thì con gái, lúc vàng óng, trĩu bông hay sông Hồng chở nặng phù sa, hồng nhạt khi mùa xuân đến, đỏ chói như son khi mùa lũ về… Vì thế, khi làm bài nhiều HS không nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả, dẫn đến tả không chân thực. Cũng có trường hợp HS đọc xong đề bài không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, cái gì viết trước, cái gì viết sau,.... Ngoài ra, do sức hút của của các trò chơi hiện đại, trẻ em ngày nay đã lãng quên thế giới thơ mộng ở xung quanh, cái thế giới của ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, của mưa, của gió, ... mà không phải riêng nhà văn Tô Hoài mới có. Đây là thế giới có khả năng làm phong phú tâm hồn tuổi thơ và rèn luyện óc quan sát, nhận xét, ... Việc đọc sách của các em cũng đang bị xem nhẹ. Phần lớn HS tiểu học ít quan tâm đến việc đọc, nếu có đọc thường là truyện tranh, thậm chí những truyện tranh không mang tính giáo dục. Việc trò chuyện, tiếp xúc với bố mẹ, người thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế, bởi người lớn thì bận công việc, còn các em thì ở trường cả ngày, về nhà lại phải ôn bài. Vốn liếng về cuộc sống, về văn học của HS tiểu học rất mỏng, ảnh hưởng không nhỏ đến việc học văn và tập làm văn. Dưới đây là một vài biện pháp giúp giáo viên (GV) và HS khắc phục tình trạng trên. 1. Tích luỹ kiến thức 1.1. Từ các tác phẩm văn học GV định hướng kiến thức HS cần tích lũy trong quá trình các em đọc tác phẩm. * Kiến thức về các hiện tượng tự nhiên được miêu tả ở dạng sinh động, cụ thể, có thể cảm nhận được trực tiếp. Đọc bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa, HS cảm nhận được tiết tấu một trận mưa rào mùa hạ qua những hình ảnh và âm thanh vô cùng sống động: lụ khụ gió cuốn, bụi bay cuồn cuộn, hàng bưởi đu đưa, chớp rạch ngang trời, cây dừa sải tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa, mưa ù ù như xay lúa, lộp bộp, mưa chéo mặt sân, cóc nhảy chồm chồm. Truyện ngắn “Đại hạn” của Nam Cao phác hoạ những tác động khốc hại của mặt trời đối với vạn vật: "lá cây mềm rũ", "cá úi lên trên mặt nước", "đất rộp lên", "nứt toang", "rắn câng". Hay ở bài “Giữ đê” của Ma Văn Kháng, điệp từ “mưa” xuất hiện trong ba câu văn ngắn gọn cùng với một loạt các từ ngữ gợi tả: "rả rích đêm ngày", "tối tăm mặt mũi", "thối đất thối cát", vẽ ra trước mắt người đọc những trận mưa không dứt. Tác giả còn diễn tả thêm cái dữ dội của thời tiết: "Tưởng như biển có bao nhiêu nước, trời hút lên đổ hết xuống đất liền." v.v... * Kiến thức về mối quan hệ giữa con người với con người: "Văn học là nhân học", tác phẩm văn học miêu tả hình ảnh của con người, cho ta thấy cách sinh hoạt, giao tiếp, những suy nghĩ, ước mơ, hoài bão, cảm xúc vui buồn ... của con người. Tác giả Ngô Tất Tố miêu tả sinh hoạt gấp gáp của người dân đến "Buổi chợ Trung du", phiên chợ thời chiến qua các chi tiết: "vai kĩu kịt", "tay vung vẩy", "chân bước thoăn thoắt", "tiếng người nói léo xéo", "những luồng phát âm của hàng nghìn cái miệng cũng đủ làm cho khu rừng ầm ầm". Những từ: "đăm đắm", "quyến rũ", "nhớ thương", "mãnh liệt", "day dứt" trong bài “Tình quê hương” của Nguyễn Khải diễn tả niềm nhớ thương quê hương da diết của người lính trở về đơn vị sau những ngày ăn tết ở quê nhà. Kỉ niệm cứ tuôn chảy trong hồi ức, trong những câu văn mang giai điệu thiết tha, trìu mến, ... * Kiến thức về ngôn ngữ: Quá trình tích lũy những bộ phận kiến thức như trên chính là quá trình HS tự mình mở rộng phạm vi gợi ý, lựa chọn về ngôn ngữ (từ vựng, hình ảnh, cấu trúc câu... ), giúp các em dễ dàng hơn khi tìm cách diễn đạt đối tượng. Bên cạnh đó, đọc các tác phẩm văn học, những cách sử dụng ngôn từ trong giao tiếp sẽ tự nhiên ăn sâu vào tiềm thức của HS, trở thành cái vốn để các em huy động khi cần khắc họa cách thức giao tiếp nói năng của nhân vật mà các em mô tả. Để HS nắm bắt được những kiến thức phong phú từ các tác phẩm văn học, vai trò của người thầy hết sức quan trọng: giúp HS tiếp cận giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, từ đó các em thu nhận những hiểu biết về con người và cuộc sống xung quanh, hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật qua sự chuyển hoá các lớp nghĩa tinh tế cũng như cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, hình ảnh. Cuối cùng, HS chuyển kiến thức đã tiếp nhận thành năng lực sử dụng tiếng Việt. Thói quen đọc sách có chọn lọc và có định hướng bồi dưỡng cho HS tình yêu văn học. Đọc, yêu cầu phải kết hợp với ghi chép những chi tiết, những hình ảnh, đoạn thơ, đoạn văn đặc sắc; nhất là biết tổng hợp kiến thức để bổ sung thêm cho vốn kiến thức của mình. 1.2. Từ các môn học khác: 1.3. Từ thực tế: Có thể thấy việc bồi dưỡng và tích luỹ kiến thức là một quá trình lâu dài, đòi hỏi các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ định hướng, tạo cơ hội cho HS, con em mình mỗi ngày mỗi nơi một ít, làm giàu thêm vốn sống, vốn liếng văn học. 2. Quan sát và ghi chép Trong văn miêu tả, quan sát rất quan trọng. Việc quan sát và vị trí quan sát tốt, góc quan sát phù hợp sẽ giúp ta nắm đợc cái thần của đối tượng. Có thể thấy, qua quan sát của Tô Hoài mà chú gà chọi hiện lên với những nét khác thường, từ "đôi chân cứng lẳn như hai thanh sắt phủ đầy những vẩy lớn sắp vàng" đến bộ mặt "tím lịm, lùi xùi những mào, những tai và những mấy cái ria mép". Nổi bật là màu của da: "đỏ gay", "đỏ gắt", "đỏ tía", "đỏ bóng". Tô Hoài đã tìm được những nét chính, nét riêng biệt của một chú gà chọi. Quan sát đối tượng không chỉ bằng thị giác mà phải huy động mọi giác quan: thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm). Những đoạn văn hay và hấp dẫn là những thành công của tác giả trong việc dùng nhiều giác quan để quan sát. Cũng tả gà, nhưng nhà văn Võ Quảng lại đi vào tả cụ thể ba con gà. Mỗi con một dáng vẻ, một đặc điểm sinh động về tính cách. Trình tự miêu tả đi từ tiếng gáy (thính giác) đến màu sắc, hình dáng và hoạt động (thị giác), từ đó làm nổi bật tính cách của từng con. Con gà của anh Bốn Linh: "tiếng gáy dõng dạc", "dáng đi oai vệ", "kiêu hãnh", cái vẻ "phớt lờ", "thách thức"; còn gà của ông Bảy Hoá lại có: "bộ mã khá đẹp", "lông trắng", "mỏ búp chuối", "mào có hai cánh như hai vỏ trai úp" - đặc điểm ngoại hình tạo nên ưu thế "láo khoét", thích “tán tỉnh”. Cuối cùng là con gà của bà Kiến, một chú gà trống tơ không đẹp, không khoẻ: "lông đen", "chân chì", "bộ giò cao", "cổ ngắn", tính nết bộc lộ rõ trong tư thế: "xoè cánh, nghển cổ, chuẩn bị chu đáo, nhưng rốt cuộc chỉ rặn được ba tiếng éc, e, ê cụt ngủn". Tuy nhiên, tuỳ từng kiểu bài ta có những cách quan sát khác nhau. Đối với kiểu bài tả đồ vật ta có thể quan sát theo trình tự: mắt nhìn, tay sờ, tai nghe, mũi ngửi,… nhưng đối với bài văn tả cây cối cần phải quan sát theo một trình tự từ xa đến gần, từ bao quát đến bộ phận, nét khác biệt của cây đó với cây khác. Đối với bài văn tả loài vật, ta quan sát ngoại hình rồi mới đến những thói quen sinh hoạt và những hoạt động của con vật. Còn đối với bài văn tả cảnh, ta quan sát theo trình tự: thời gian, theo đặc điểm nổi bật và theo từng góc độ của cảnh. Với bài văn tả người, lại cần phải quan sát kĩ về: ngoại hình (tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng,…), về tính tình và hoạt động (lời nói, cử chỉ, thói quen, cách cư xử với người khác, việc làm…). Quan sát luôn đi liền ghi chép. Ghi chép hỗ trợ trí nhớ, giúp HS có cơ sở để lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh đặc sắc. Cần hướng dẫn HS cách ghi chép khi quan sát: ghi những đặc điểm cơ bản về hình dạng, màu sắc, hoạt động,… của đối tượng, nhất là những điểm mới, riêng, độc đáo mà người khác không nhìn thấy. 3. Rèn luyện cách dùng từ ngữ biểu cảm và các thủ pháp nghệ thuật Trong VMT thường xuất hiện lớp từ có tính hình tượng, có giá trị biểu cảm như từ láy, tính từ tuyệt đối. Chúng là thế mạnh đặc trưng của Tiếng Việt và là phương tiện miêu tả hiệu quả. Dạy HS viết VMT, GV cần hướng dẫn HS khai thác và sử dụng có hiệu quả các từ láy tượng thanh như: vi vu, lao xao, xào xạc (tiếng gió), lộp bộp, tí tách, long bong (tiếng mưa), róc rách, ào ào, tí tách (tiếng nước chảy)... ; các từ láy tượng hình như: chon chót (đỏ), hun hút, thăm thẳm (sâu), ngăn ngắt (xanh), mênh mông (rộng),… ; các tính từ tuyệt đối chỉ màu: vàng óng, vàng hoe, vàng xuộm, vàng lịm, xanh um, xanh thẳm, xanh trong, xanh lét, đỏ ối, đỏ chót, đỏ hoe, tím ngắt,… , chỉ mùi: thơm ngát, thơm nức, thơm thoang thoảng, thơm ngan ngát,… Thế giới âm thanh và màu sắc góp phần không nhỏ làm nên vẻ đẹp của bài VMT, giúp nó thật hơn, sinh động hơn. Các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh cũng là phương tiện miêu tả hữu hiệu. Sử dụng so sánh trong bài văn miêu tả là cách thức làm đẹp ngôn từ. Chẳng hạn, so sánh quả với vật “Trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống như những tổ kiến”, ngời với cây cối “Ông lão như cây lim, cây sến giữa rừng”, loài vật với đồ vật “Chú gà trống như một chiếc đồng hồ báo thức”... Trong VMT, để làm tăng sự uyển chuyển, mềm mại khi diễn đạt người viết thường sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa. Nhà văn Tô Hoài tả hình dáng bên ngoài của chào mào: “Mắt, mỏ Chào Mào nhâng nháo, phởn phơ. Đứng đâu cũng nhún nhảy làm điệu. Đã thế đỉnh đầu lại chênh vênh đội lệch cái mũ nhung đen nháy.”. Đàn bò của Hồ Phương mang những nét tính nết của con người: “Con Ba Bớp phàm ăn tục uống nhất… Con Hoa hùng hục ăn. Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ… , cu Tũn dở hơi chốc chốc lại ăn tranh mảng cỏ của mẹ, chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó.” So sánh và nhân hoá giữ vai trò quan trọng trong việc biểu đạt đặc điểm, thuộc tính của đối tượng miêu tả và cần được khuyến khích sử dụng trong bài VMT của HS. Có thể định hướng cho các em tham khảo trong các tác phẩm của Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Ma Văn Kháng, Trần Hoài Dương, Trần Đăng Khoa... Để khắc phục tình trạng học kém môn văn hiện nay ở bậc tiểu học, trước hết cần có một quan niệm mới về môn học: phân môn tập làm văn là môn học sáng tạo chứ không phải sao chép, môn học tổng hợp kiến thức, tổng hợp các kĩ năng (kĩ năng sống, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, trình bày và tạo lập văn bản,... ), sau nữa là áp dụng các giải pháp đồng bộ: + Nghiêm túc thực hiện giáo dục toàn diện cho HS. + Đánh giá đúng tầm quan trọng của từng môn học, dạy đúng môn, đủ thời lượng, không coi trọng môn này hoặc xem nhẹ môn kia. + Đổi mới thi cử, đánh giá + Khuyến khích việc đọc sách, bằng cách: thư viện trong nhà trường phải hoạt động hiệu quả, lượng sách phong phú, đầy đủ chủng loại, quan tâm nhiều đến sách văn học,... ; bố mẹ định hướng việc chọn sách cho con, thưởng sách mỗi khi con có thành tích,… + Tạo điều kiện cho HS, con em hoà nhập với thiên nhiên, đưa vào các chương trình sinh hoạt tập thể với những nội dung hướng vào việc phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ,… Nguồn : Trường Tiểu học Thái Phiên - Hải Phòng |
Lê Quang Dương @ 15:17 19/09/2012
Số lượt xem: 836





Các ý kiến mới nhất