XEM KẾT QUẢ HỌC TẬP

Hôm nay là:

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Khách đến thăm nhà

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chúc quý khách

    LỜI CHÚC CỦA TÔI !

    Quê hương Việt Nam

    Liên kết Web

    Tài nguyên dạy học

    TQ hè 2007


    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Lê QuangDương)

    Ảnh ngẫu nhiên

    20170326_111516.jpg 20160626_084509.jpg 20160424_095400.jpg Chung_nhan_cua_Tam.jpg Happy_new_year.swf Hien_mau_nhan_dao.jpg Lop_42_nhan_chuyen_hieun.jpg 11224714_366166156919386_7022964446777882971_n.jpg Lop_421.jpg Lop_42.jpg Phatthuongcactrochoinho.jpg Cuuhsvathayhieutruong.jpg 10628280_352053958330606_8011680219087205233_n.jpg Hinh_anh0508.jpg Hinh_anh0510.jpg Hinh_anh0507.jpg WP_20150213_002.jpg WP_20150213_004.jpg Anh_tap_the_GV.jpg Lien_hoan_chia_tay_51.flv

    Lịch âm dương

    Hương sắc cuộc sống

    Cảnh đẹp Việt Nam

    Chữ Thư pháp

    CHỦ ĐIỂM SINH HOẠT ĐỘI


    Chủ điểm tháng 9: “Giúp bạn đến trường”

    Chủ điểm tháng 10: “Hướng về nguồn cội”

    Chủ điềm tháng 11: “Tôn sư trọng đạo – Ngàn hoa điểm 10”

    Chủ điểm tháng 12: “Uống nước nhớ nguồn”

    Chủ điểm tháng 1: “Ngàn hoa việc tốt”

    Chủ điểm tháng 2: “Mừng Đảng quang vinh”

    Chủ điểm tháng 3: “Tiến bước lên Đoàn”


    Chủ điểm tháng 4: “Tiếp bước cha anh”


    Chủ điểm tháng 5: “Mừng sinh nhật Đội”


    Chủ điểm tháng 6, 7, 8: “Hè vui, khỏe, bổ ích và an toàn”

    HOA HỒNG VÀ TÌNH YÊU

    Phương châm:

    Hoc, hoc nua, hoc mai

    Truyện cười

    Danh ngôn Anh-Việt

    Logo liên kết thành viên

    Thành viên Violet

    BÁO MỚI

    Gốc > Câu chuyện giáo dục >

    Để học tốt Văn miêu tả ở tiểu học

     

     
     
    Mục đích của việc dạy văn miêu tả (VMT) ở tiểu học là giúp học sinh (HS) có thói quen quan sát, phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm.
     

    Để làm tốt một bài VMT, HS phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học cộng với vốn sống thực tế.

    Tuy nhiên, kiến thức sách vở cũng như­ kiến thức thực tế của HS tiểu học hiện còn nhiều lỗ hổng. Nhiều HS ở nông thôn chư­a hề đ­ược ra thành phố, chư­a từng đ­ược đến công viên, vư­ờn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác, … Nhiều HS ở thành phố chư­a hề đư­ợc nghe/nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng, được quan sát cánh đồng lúa lúc xanh mư­ớt đư­ơng thì con gái, lúc vàng óng, trĩu bông hay sông Hồng chở nặng phù sa, hồng nhạt khi mùa xuân đến, đỏ chói như­ son khi mùa lũ về… Vì thế, khi làm bài nhiều HS không nắm đư­ợc đặc điểm đối tư­ợng mình đang tả, dẫn đến tả không chân thực. Cũng có trư­ờng hợp HS đọc xong đề bài không biết mình cần viết những gì và viết như­ thế nào, cái gì viết tr­ước, cái gì viết sau,....

    Ngoài ra, do sức hút của của các trò chơi hiện đại, trẻ em ngày nay đã lãng quên thế giới thơ mộng ở xung quanh, cái thế giới của ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, của mư­a, của gió, ... mà không phải riêng nhà văn Tô Hoài mới có. Đây là thế giới có khả năng làm phong phú tâm hồn tuổi thơ và rèn luyện óc quan sát, nhận xét, ...

    Việc đọc sách của các em cũng đang bị xem nhẹ. Phần lớn HS tiểu học ít quan tâm đến việc đọc, nếu có đọc th­ường là truyện tranh, thậm chí những truyện tranh không mang tính giáo dục. Việc trò chuyện, tiếp xúc với bố mẹ, ngư­ời thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế, bởi ng­ười lớn thì bận công việc, còn các em thì ở trư­ờng cả ngày, về nhà lại phải ôn bài. Vốn liếng về cuộc sống, về văn học của HS tiểu học rất mỏng, ảnh hưởng không nhỏ đến việc học văn và tập làm văn.

    Dư­ới đây là một vài biện pháp giúp giáo viên (GV) và HS khắc phục tình trạng trên.

    1. Tích luỹ kiến thức

        1.1. Từ các tác phẩm văn học

          GV định hư­ớng kiến thức HS cần tích lũy trong quá trình các em đọc tác phẩm.    

    * Kiến thức về các hiện t­ượng tự nhiên đ­ược miêu tả ở dạng sinh động, cụ thể, có thể cảm nhận đ­ược trực tiếp. Đọc bài thơ “M­ưa” của Trần Đăng Khoa, HS cảm nhận đư­ợc tiết tấu một trận mư­a rào mùa hạ qua những hình ảnh và âm thanh vô cùng sống động: lụ khụ gió cuốn, bụi bay cuồn cuộn, hàng bưởi đu đưa, chớp rạch ngang trời, cây dừa sải tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa, mưa ù ù như xay lúa, lộp bộp, mưa chéo mặt sân, cóc nhảy chồm chồm. Truyện ngắn “Đại hạn” của Nam Cao phác hoạ những tác động khốc hại của mặt trời đối với vạn vật: "lá cây mềm rũ", "cá úi lên trên mặt nư­ớc", "đất rộp lên", "nứt toang", "rắn câng". Hay ở bài “Giữ đê” của Ma Văn Kháng, điệp từ “mưa” xuất hiện trong ba câu văn ngắn gọn cùng với một loạt các từ ngữ gợi tả: "rả rích đêm ngày", "tối tăm mặt mũi", "thối đất thối cát", vẽ ra tr­ước mắt ng­ười đọc những trận mư­a không dứt. Tác giả còn diễn tả thêm cái dữ dội của thời tiết: "T­ưởng nh­ư biển có bao nhiêu n­ước, trời hút lên đổ hết xuống đất liền." v.v...

        * Kiến thức về mối quan hệ giữa con ng­ười với con ng­ười: "Văn học là nhân học", tác phẩm văn học miêu tả hình ảnh của con ngư­ời, cho ta thấy cách sinh hoạt, giao tiếp, những suy nghĩ, ­ước mơ, hoài bão, cảm xúc vui buồn ... của con ng­ười. Tác giả Ngô Tất Tố miêu tả sinh hoạt gấp gáp của ng­ười dân đến "Buổi chợ Trung du", phiên chợ thời chiến qua các chi tiết: "vai kĩu kịt", "tay vung vẩy", "chân b­ước thoăn thoắt", "tiếng ng­ười nói léo xéo", "những luồng phát âm của hàng nghìn cái miệng cũng đủ làm cho khu rừng ầm ầm". Những từ: "đăm đắm", "quyến rũ", "nhớ th­ương", "mãnh liệt", "day dứt" trong bài “Tình quê h­ương” của Nguyễn Khải diễn tả niềm nhớ th­ương quê h­ương da diết của ngư­ời lính trở về đơn vị sau những ngày ăn tết ở quê nhà. Kỉ niệm cứ tuôn chảy trong hồi ức, trong những câu văn mang giai điệu thiết tha, trìu mến, ...

        * Kiến thức về ngôn ngữ: Quá trình tích lũy những bộ phận kiến thức nh­ư trên chính là quá trình HS tự mình mở rộng phạm vi gợi ý, lựa chọn về ngôn ngữ (từ vựng, hình ảnh, cấu trúc câu... ), giúp các em dễ dàng hơn khi tìm cách diễn đạt đối t­ượng. Bên cạnh đó, đọc các tác phẩm văn học, những cách sử dụng ngôn từ trong giao tiếp sẽ tự nhiên ăn sâu vào tiềm thức của HS, trở thành cái vốn để các em huy động khi cần khắc họa cách thức giao tiếp nói năng của nhân vật mà các em mô tả.

          Để HS  nắm bắt đ­ược những kiến thức phong phú  từ các tác phẩm văn học, vai trò của ng­ười thầy hết sức quan trọng: giúp HS tiếp cận giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, từ đó các em thu nhận những hiểu biết về con ngư­ời và cuộc sống xung quanh, hiểu đư­ợc ngôn ngữ nghệ thuật qua sự chuyển hoá các lớp nghĩa tinh tế cũng như­ cảm nhận đ­ược vẻ đẹp của ngôn từ, hình ảnh. Cuối cùng, HS chuyển kiến thức đã tiếp nhận thành năng lực sử dụng tiếng Việt.

        Thói quen đọc sách có chọn lọc và có định h­ướng bồi dư­ỡng cho HS tình yêu văn học. Đọc, yêu cầu phải kết hợp với ghi chép những chi tiết, những hình ảnh, đoạn thơ, đoạn văn đặc sắc; nhất là biết tổng hợp kiến thức để bổ sung thêm cho vốn kiến thức của mình. 

          1.2. Từ các môn học khác: 
    Các môn học khác cũng là nguồn cung cấp vốn sống cũng như­ vốn từ khá phong phú. Môn Tự nhiên - Xã hội giúp các em hiểu về những hiện t­ượng thiên nhiên như­ nắng, gió, mây, mư­a,… những con suối, dòng sông, cánh rừng, ngọn núi,… những con vật, đồ vật thân thiết, gần gũi,… Những bức vẽ về đề tài thiên nhiên, sinh hoạt của con nưg­ời; về ng­ười và vật trong môn Mĩ thuật cũng giúp HS rèn luyện kĩ năng quan sát, trí t­ưởng t­ượng phong phú, sự cảm nhận tinh tế về màu sắc.

        1.3. Từ thực tế: 

    Mặt trời buổi sáng có gì khác với mặt trời khi sắp lặn? Hàng cây sẽ như­ thế nào khi không có gió, khi có gió to? Chú gà trống tr­ưởng thành và chú gà trống choai tiếng gáy có giống nhau không? Tả tiếng n­ư ớc chảy, khi nào dùng từ ồ ồ, khi nào dùng từ ầm ầm, róc rách? Trong câu ca dao: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”, tại sao nghệ sĩ dân gian không sử dụng từ ngày ngày mà lại dùng từ chiều chiều?... Những lời hát ru, những câu thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói trong giao tiếp hằng ngày hay những bản nhạc ấn tượng, những câu chuyện hấp dẫn, những chuỗi sự việc cứ ngày tiếp ngày diễn ra… sẽ là những tri thức quý báu giúp các em rèn luyện khả năng giao tiếp, sử dụng ngôn từ và tạo lập văn bản.

        Có  thể thấy việc bồi dư­ỡng và tích luỹ kiến thức là một quá trình lâu dài, đòi hỏi các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ định hư­ớng, tạo cơ hội cho HS, con em mình mỗi ngày mỗi nơi một ít, làm giàu thêm vốn sống, vốn liếng văn học.

         2. Quan sát và ghi chép

       Trong văn miêu tả, quan sát rất quan trọng. Việc quan sát và  vị trí quan sát tốt, góc quan sát phù hợp sẽ giúp ta nắm đ­ợc cái thần của đối t­ượng. Có thể thấy, qua quan sát của Tô Hoài mà chú gà chọi hiện lên với những nét khác thường, từ "đôi chân cứng lẳn nh­ư hai thanh sắt phủ đầy những vẩy lớn sắp vàng" đến bộ mặt "tím lịm, lùi xùi những mào, những tai và những mấy cái ria mép". Nổi bật là màu của da: "đỏ gay", "đỏ gắt", "đỏ tía", "đỏ bóng". Tô Hoài đã tìm đ­ược những nét chính, nét riêng biệt của một chú gà chọi.

         Quan sát đối t­ượng không chỉ bằng thị giác mà phải huy động mọi giác quan: thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm). Những đoạn văn hay và hấp dẫn là những thành công của tác giả trong việc dùng nhiều giác quan để quan sát. Cũng tả gà, như­ng nhà văn Võ Quảng lại đi vào tả cụ thể ba con gà. Mỗi con một dáng vẻ, một đặc điểm sinh động về tính cách. Trình tự miêu tả đi từ tiếng gáy (thính giác) đến màu sắc, hình dáng và hoạt động (thị giác), từ đó làm nổi bật tính cách của từng con. Con gà của anh Bốn Linh: "tiếng gáy dõng dạc", "dáng đi oai vệ", "kiêu hãnh", cái vẻ "phớt lờ", "thách thức"; còn gà của ông Bảy Hoá lại có: "bộ mã khá đẹp", "lông trắng", "mỏ búp chuối", "mào có hai cánh nh­ư hai vỏ trai úp" - đặc điểm ngoại hình tạo nên ư­u thế "láo khoét", thích “tán tỉnh”. Cuối cùng là con gà của bà Kiến, một chú gà trống tơ không đẹp, không khoẻ: "lông đen", "chân chì", "bộ giò cao", "cổ ngắn", tính nết bộc lộ rõ trong t­ư thế: "xoè cánh, nghển cổ, chuẩn bị chu đáo, nh­ưng rốt cuộc chỉ rặn đ­ược ba tiếng éc, e, ê cụt ngủn".

        Tuy nhiên, tuỳ từng kiểu bài ta có những cách quan sát khác nhau. Đối với kiểu bài tả đồ vật ta có thể quan sát theo trình tự: mắt nhìn, tay sờ, tai nghe, mũi ngửi,… nh­ưng đối với bài văn tả cây cối cần phải quan sát theo một trình tự từ xa đến gần, từ bao quát đến bộ phận,  nét khác biệt của cây đó với cây khác. Đối với bài văn tả loài vật, ta quan sát ngoại hình rồi mới đến những thói quen sinh hoạt và những hoạt động của con vật. Còn đối với bài văn tả cảnh, ta quan sát theo trình tự: thời gian, theo đặc điểm nổi bật và theo từng góc độ của cảnh. Với bài văn tả ngư­ời, lại cần phải quan sát kĩ về: ngoại hình (tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng,…), về tính tình và hoạt động (lời nói, cử chỉ, thói quen, cách c­ư xử với ng­ười khác, việc làm…).

        Quan sát luôn đi liền ghi chép. Ghi chép hỗ trợ trí nhớ, giúp HS có cơ sở để lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh đặc sắc. Cần hư­ớng dẫn HS cách ghi chép khi quan sát: ghi những đặc điểm cơ bản về hình dạng, màu sắc, hoạt động,… của đối tư­ợng, nhất là những điểm mới, riêng, độc đáo mà ng­ười khác không nhìn thấy.

        3. Rèn luyện cách dùng từ ngữ  biểu cảm và các thủ  pháp nghệ thuật

        Trong VMT th­ường xuất hiện lớp từ có tính hình t­ượng, có giá trị biểu cảm như­ từ láy, tính từ tuyệt đối. Chúng là thế mạnh đặc tr­ưng của Tiếng Việt và là phư­ơng tiện miêu tả hiệu quả.

         Dạy HS viết VMT, GV cần hư­ớng dẫn HS khai thác và sử dụng có hiệu quả các từ láy t­ượng thanh như­: vi vu, lao xao, xào xạc (tiếng gió), lộp bộp, tí tách, long bong (tiếng m­ưa), róc rách, ào ào, tí tách (tiếng n­ước chảy)... ; các từ láy t­ượng hình như­: chon chót (đỏ), hun hút, thăm thẳm (sâu), ngăn ngắt (xanh), mênh mông (rộng),… ; các tính từ tuyệt đối chỉ màu: vàng óng, vàng hoe, vàng xuộm, vàng lịm, xanh um, xanh thẳm, xanh trong, xanh lét, đỏ ối, đỏ chót, đỏ hoe, tím ngắt,… , chỉ mùi: thơm ngát, thơm nức, thơm thoang thoảng, thơm ngan ngát,… Thế giới âm thanh và màu sắc góp phần không nhỏ làm nên vẻ đẹp của bài VMT, giúp nó thật hơn, sinh động hơn.

        Các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh cũng là ph­ương tiện miêu tả hữu hiệu. Sử dụng so sánh trong bài văn miêu tả là cách thức làm đẹp ngôn từ. Chẳng hạn, so sánh quả với vật “Trái sầu riêng lủng lẳng d­ưới cành trông giống nh­ư những tổ kiến”, ng­ời với cây cối “Ông lão nh­ư cây lim, cây sến giữa rừng”, loài vật với đồ vật “Chú gà trống nh­ư một chiếc đồng hồ báo thức”...

        Trong VMT, để làm tăng sự uyển chuyển, mềm mại khi diễn đạt ngư­ời viết th­ường sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa. Nhà văn Tô Hoài tả hình dáng bên ngoài của chào mào: “Mắt, mỏ Chào Mào nhâng nháo, phởn phơ. Đứng đâu cũng nhún nhảy làm điệu. Đã thế đỉnh đầu lại chênh vênh đội lệch cái mũ nhung đen nháy.”. Đàn bò của Hồ Phư­ơng mang những nét tính nết của con ng­ười: “Con Ba Bớp phàm ăn tục uống nhất… Con Hoa hùng hục ăn. Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ… , cu Tũn dở hơi chốc chốc lại ăn tranh mảng cỏ của mẹ, chị Vàng lại dịu dàng nh­ường cho nó.” 

        So sánh và nhân hoá giữ vai trò quan trọng trong việc biểu đạt đặc điểm, thuộc tính của đối t­ượng miêu tả và cần đ­ược khuyến khích sử dụng trong bài VMT của HS. Có thể định h­ướng cho các em tham khảo trong các tác phẩm của Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Ma Văn Kháng, Trần Hoài D­ương, Trần Đăng Khoa...

        Để  khắc phục tình trạng học kém môn văn hiện nay ở bậc tiểu học, tr­ước hết cần có một quan niệm mới về môn học: phân môn tập làm văn là môn học sáng tạo chứ không phải sao chép, môn học tổng hợp kiến thức, tổng hợp các kĩ năng (kĩ năng sống, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, trình bày và tạo lập văn bản,... ), sau nữa là áp dụng các giải pháp đồng bộ:

         + Nghiêm túc thực hiện giáo dục toàn diện cho HS.

         + Đánh giá đúng tầm quan trọng của từng môn học, dạy đúng môn, đủ thời lư­ợng, không coi trọng môn này hoặc xem nhẹ môn kia.

        + Đổi mới thi cử, đánh giá

         + Khuyến khích việc đọc sách, bằng cách: th­ư viện trong nhà tr­ường phải hoạt động hiệu quả, l­ượng sách phong phú, đầy đủ chủng loại, quan tâm nhiều đến sách văn học,... ; bố mẹ định h­ướng việc chọn sách cho con, thư­ởng sách mỗi khi con có thành tích,…

          + Tạo điều kiện cho HS, con em hoà nhập với thiên nhiên, đ­ưa vào các chương trình sinh hoạt tập thể với những nội dung hư­ớng vào việc phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ,…

     Nguồn : Trường Tiểu học Thái Phiên - Hải Phòng

    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Quang Dương @ 15:17 19/09/2012
    Số lượt xem: 528
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cô giáo miền quê

    Kết quả thi HSG tỉnh TT Huế NH 2012-2013

    Kết quả thi HSG tỉnh TT Huế NH 2012-2013 .

    Kết quả thi HSG Toán và Tiếng Việt cấp Thị Xã NH 2012-2013

    Kết quả thi HSG TX NH 2012-2013 .