XEM KẾT QUẢ HỌC TẬP

Hôm nay là:

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Khách đến thăm nhà

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chúc quý khách

    LỜI CHÚC CỦA TÔI !

    Quê hương Việt Nam

    Liên kết Web

    Tài nguyên dạy học

    TQ hè 2007


    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Lê QuangDương)

    Ảnh ngẫu nhiên

    20170326_111516.jpg 20160626_084509.jpg 20160424_095400.jpg Chung_nhan_cua_Tam.jpg Happy_new_year.swf Hien_mau_nhan_dao.jpg Lop_42_nhan_chuyen_hieun.jpg 11224714_366166156919386_7022964446777882971_n.jpg Lop_421.jpg Lop_42.jpg Phatthuongcactrochoinho.jpg Cuuhsvathayhieutruong.jpg 10628280_352053958330606_8011680219087205233_n.jpg Hinh_anh0508.jpg Hinh_anh0510.jpg Hinh_anh0507.jpg WP_20150213_002.jpg WP_20150213_004.jpg Anh_tap_the_GV.jpg Lien_hoan_chia_tay_51.flv

    Lịch âm dương

    Hương sắc cuộc sống

    Cảnh đẹp Việt Nam

    Chữ Thư pháp

    CHỦ ĐIỂM SINH HOẠT ĐỘI


    Chủ điểm tháng 9: “Giúp bạn đến trường”

    Chủ điểm tháng 10: “Hướng về nguồn cội”

    Chủ điềm tháng 11: “Tôn sư trọng đạo – Ngàn hoa điểm 10”

    Chủ điểm tháng 12: “Uống nước nhớ nguồn”

    Chủ điểm tháng 1: “Ngàn hoa việc tốt”

    Chủ điểm tháng 2: “Mừng Đảng quang vinh”

    Chủ điểm tháng 3: “Tiến bước lên Đoàn”


    Chủ điểm tháng 4: “Tiếp bước cha anh”


    Chủ điểm tháng 5: “Mừng sinh nhật Đội”


    Chủ điểm tháng 6, 7, 8: “Hè vui, khỏe, bổ ích và an toàn”

    HOA HỒNG VÀ TÌNH YÊU

    Phương châm:

    Hoc, hoc nua, hoc mai

    Truyện cười

    Danh ngôn Anh-Việt

    Logo liên kết thành viên

    Thành viên Violet

    BÁO MỚI

    Gốc > Thầy kể em nghe >

    Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

    1. Vùng đất Hà Nội phải chăng đã đăng ký vào lịch sử với tên gọi đầu tiên là Tống Bình?
    2. Giữa thế kỷ V (454 - 456), vùng Hà Nội được mang tên Tống Bình với tư cách là một huyện. Năm 545, Tống Bình mở rộng trở thành quận. Sau đó lúc thì thành một châu, lúc lại thành một huyện lớn, đến năm 627 huyện Tống Bình trở thành trị sở của Giao Châu. Năm 679, nhà Đường lập An Nam đô hộ phủ, đặt chức Kinh lược sứ An Nam quản 12 châu (từ Bắc Bộ vào Bắc Trung Bộ), trị sở cũng đặt tại Tống Bình. Vậy là từ thế kỷ thứ VII vùng Hà Nội đã trở thành trung tâm đất nước ta ngày ấy.

      003.Hà Nội đã qua bao lần đổi tên (lấy mốc thời gian từ 1010 đến nay)?

      Hà Nội đã qua nhiều lần đổi tên. Năm 1010, lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, đổi tên là thành Thăng Long, về hành chính thì đặt phủ Ứng Thiên, năm 1015 đổi gọi là Nam Kinh. Cuối đời Trần, vào năm 1397, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông dời đô vào Thanh Hóa đóng ở thành mới xây gọi là Tây Đô. Năm 1400, Hồ Quý Ly giành ngôi vua vẫn đóng ở Tây Đô, do vậy Thăng Long trở thành Đông Đô. Từ năm 1407 đến 1427, Đông Đô bị quân Minh chiếm đóng, chúng đổi tên là Đông Quan. Năm 1428, Lê Lợi giải phóng Đông Quan, đến năm 1430 đổi tên thành Đông Kinh. Tuy vậy cái tên Thăng Long vẫn được dùng. Đời Lê Thánh Tông, thành Đông Kinh tức kinh đô Thăng Long được gọi là phủ Trung Đô rồi phủ Phụng Thiên. Đời Tây Sơn đóng đô tại Phú Xuân (Huế) gọi Thăng Long là Bắc Thành. Đời Nguyễn Gia Long vẫn gọi là Bắc Thành nhưng đổi phủ Phụng Thiên ra là phủ Hoài Đức. Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ: Hoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân và tỉnh ly đóng ở phủ Hoài Đức tức thành Thăng Long cũ, do đó Thăng Long cũng được gọi là Hà Nội. Cái tên này được giữ cho tới tận nay. Thời Pháp thuộc, bên cạnh tên Hà Nội, thành phố còn được gọi là Hà Thành nhưng tên gọi này không thông dụng.

    3. 005.Tòa thành cổ nhất Việt Nam trên đất Hà Nội là thành nào?

      Đó là thành Cổ Loa nay thuộc địa phận xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

      Thành do An Dương Vương xây dựng vào khoảng thế kỷ III tr.CN. Đây là tòa thành đắp bằng đất, tương truyền có tới 9 vòng xoán trôn ốc, do đó gọi là thành Ốc. Ngày nay, dấu tích còn lại của thành Cổ Loa chỉ còn có ba vòng. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km. Lũy thành cao trung bình từ 4 đến 5 mét, có chỗ cao tới 12 mét. Các cửa của ba vòng thành được bố trí không nằm trên một trục đường thẳng mà lệch chéo đi nhiều phía, có 18 ụ gò nhô cao để phòng ngự. Đây được coi là công trình quân sự đầy sáng tạo và kỳ vĩ của dân tộc ta. Cổ Loa được coi là Kinh đô thứ hai của Việt Nam, sau Phong Châu ở Phú Thọ là Thủ đô của thời các vua Hùng.

      Thành Cổ Loa còn một lần nữa trở thành Kinh đô. Đó là vào năm 939 - dưới thời Ngô Quyền. Tháng 12-938 quân Nam Hán vượt biển tiến vào xâm lược nước ta, Ngô Quyền đã bố trí một trận địa cọc trên sông Bạch Đằng và tiêu diệt gọn quân xâm lược. Sau chiến thắng, Ngô Quyền xưng vương và định đô lại Cổ Loa, chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc.

    4. 006.Thành Đại La được xây dựng vào thời gian nào?

      Năm 757 Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi đã cho đắp La Thành (tại Tống Bình) bao quanh phủ thành đô hộ, nhưng thành này chỉ cao vài thước, nhỏ hẹp. Các viên đô hộ Triệu Xương, Bùi Thái có mở rộng ra. Đến năm 808 Trương Châu tu sửa lớn, gọi là An Nam La Thành, tường thành cao khoảng 6,8m, có ba cửa thông ra ngoài: cửa đông và cửa tây, mỗi cửa có ba ngăn, cửa nam có năm ngăn. Năm 866, viên Tiết lộ sứ Cao Biền đã cho đắp rộng An Nam La Thành, gọi là thành Đại La. Thành Đại La theo ghi chép của sách Việt sử lược có chu vi gần 2000 trượng tương đương 6000 mét, cao 2 trượng rưỡi tương đương 8m, chân thành cũng rộng như vậy. Bốn mặt có 55 vọng canh, 5 tháp canh… Tuy vậy, vị trí thành Đại La ngày nay chưa xác định được. Đê La Thành và đường Đại La hiện nay ở phía nam nội thành Hà Nội không phải là dấu vết thành Đại La đời Cao Biền mà chỉ là dấu viết những tòa thành được đắp trong các thời đại Lý, Trần, Lê mà thôi.

      007.Người khai sinh ra kinh thành Thăng Long là ai?

      Đó là Lý Công Uẩn (974-1028), tức là vua Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, nay là xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.



      Không sử sách nào chép rõ về gốc tích gia đình ông. Truyền thuyết kể rằng thuở nhỏ ông làm con nuôi Lý Khánh Văn. Lớn lên, nhờ tài năng, trở thành một nhân vật quan trọng trong triều đình nhà Tiền Lê với chức Điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1009, khi vua Lê Ngọa Triều chết, ông được số đông quan lại, nhà sư và tướng lĩnh ủng hộ đưa lên ngai vàng, lập ra nhà Lý.

      Trong ngót 20 năm làm vua, Lý Công Uẩn đã có một số đóng góp tích cực đối với lịch sử: dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, mở ra một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa mới cho đất nước; đặt nền móng xây dựng vương triều Lý thịnh trị, trên cơ sở đó nâng cao hơn tư thế độc lập, tự chủ, cũng như khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời của Tổ quốc, củng cố khối thống nhất dân tộc bằng cả quân sự lẫn chính trị.

    5. 008.Ai là người đầu tiên dựng thành lũy chống giặc ngoại xâm tại nội thành Hà Nội?

      Đó là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn. Ông quê ở Thái Bình (về địa điểm Thái Bình đang được tranh luận, chưa ngã ngũ là tỉnh Thái Bình ngày nay hay vùng Sơn Tây thuộc tỉnh Hà Tây).

      Xuất thân từ một hào trưởng địa phương, tháng 2 năm Giáp Tý (544) sau khi đánh bại quân xâm lược nhà Lương, Lý Bí tự xưng đế lấy hiệu Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đặt kinh đô ở Long Biên (hiện nay cũng chưa biết đích xác Long Biên là vùng nào). Năm 545, nhà Lương dồn sức mở cuộc tấn công xâm lượng nước Vạn Xuân, Lý Bí cho xây dựng một tòa thành bằng gỗ ở cửa sông Tô để chống giặc. Như vậy đây là công trình quân sự đầu tiên ở vùng Hà Nội cổ. Việc Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng hoàng đế, định niên hiệu, lập triều đình riêng ngang hàng với nước lớn phương Bắc là sự khẳng định quyền độc lập và hy vọng bền vững muôn đời.

      009.Có phải ở đời Lý có một phụ nữ thay vua trị nước?

      Đúng, đó là bà Ỷ Lan (? - 1117), tương truyền tên là Lê Thị Khiết, hoặc Lê Thị Yến hay Yến Loan. Có thể bà sinh năm Giáp Thân 1044. Nguyên quán tại trang Thổ Lỗi (hương Siêu Loại), nay có thể là dải đất từ Như Quỳnh, huyện Mỹ Văn, Hưng Yên, tới Dương Xá, Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Bà là con nhà làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm.

      Một sớm mùa xuân năm 1063, vua Lý Thánh Tông đi cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), khi xa giá tới đầu trang Thổ Lỗi, nghe có tiếng hát rất quyến rũ trong nương dâu, vua xuống kiệu đi tới thì thấy một cô gái đang vừa hái dâu vừa hát. Vua hỏi chuyện, người con gái đối đáp thông minh. Đó chính là nàng Khiết. Vua truyền lệnh tuyển cô gái vào cung, gọi tên là Ỷ Lan (do tên này mà có một truyền thuyết khác cho rằng : khi kiệu vua qua Thổ Lỗi, thấy nàng Khiết đang tựa gốc cây lan). Trong cung, nàng được học hành và tỏ ra là người thông minh, hiểu biết. Khi sinh người con trai thứ nhất là Càn Đức, Ỷ Lan được phong là Thần phi, sinh người con thứ hai nàng được phong là Nguyên phi. Đến khi vua Lý Thánh Tông mất, Càn Đức lên nối ngôi, tức là Nhân Tông, bà được phong là Hoàng Thái Hậu.

      Ỷ Lan đã hai lần nhiếp chính. Lần thứ nhất bà nhiếp chính để vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc ở phương Nam. Nhưng nhà vua đánh mãi không được, phải dẫn quân về Mạt Liên - tức Tiên Lữ (Hưng Yên) bấy giờ. Khi biết triều đình ở nhà dưới quyền bà vẫn ổn định, vua liền quay trở lại và đã chiến thắng.

      Lần thứ hai khi Lý Thánh Tông mất (1072), Nhân Tông mới 7 tuổi lên ngôi, bà nhiếp chính và đã cùng Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành lãnh đạo nhân dân đánh thắng giặc Tống xâm lược (1077).

      Về nội trị, bà ban hành nhiều chính sách tiến bộ như cho chuộc nô tỳ, tha cung nữ, giảm tô thuế, cấm giết trâu bò cày… Bà sùng đạo Phật, xây dựng nhiều chùa tháp và thường đàm đạo với các tăng ni về giáo lý.



      Tượng bà Ỷ Lan tại Bắc Ninh
       
    6. 010.Lý Thường Kiệt có phải là người Hà Nội?

      Đúng! Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) chính gốc là làng Bình Sa, phía nam Hồ Tây. Đời Lý Công Uẩn, làng này được dời ra bãi sông Cái (tức sông Hồng) để lấy đất mở mang kinh đô. Từ đó bãi có tên là làng An Xá. Lý Thường Kiệt là người làng này. Sau đổi tên ra Cơ Xá. Nay Cơ Xá là tên gọi chung dải đất ven sông Cái, từ bắc cầu Long Biên xuống đến bãi Đồng Nhân.

      Ông nguyên họ Ngô, tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban họ vua, thành ra Lý Thường Kiệt. Vào triều từ năm 23 tuổi, trải “chưa đầy một kỷ, tiếng nổi khắp nội đình”. Năm 1072, Thánh Tông mất, Lý Thường Kiệt tích cực giúp Nguyên phi Ỷ Lan và Lý Nhân Tông điều hành triều chính. Ông đã xây dựng sự đoàn kết trong triều và chuẩn bị lực lượng quân sự để đối phó với phương Bắc. Năm 1075, trước sự chuẩn bị xâm lược ráo riết và những vụ khiêu khích vùng biên giới của triều đình Tống, Lý Thường Kiệt chủ động tấn công, phá tan đồn lũy của các châu Khâm, Liêm, Ung, tiêu hủy phần lớn những căn cứ hậu cần của quân Tống. Năm 1077, ông lại tổ chức phòng tuyến sông Cầu, chiến đấu, đánh thắng cuộc xâm lược nước ta của nhà Tống.

      Sau khi chiến thắng, Lý Thường Kiệt lo việc nội trị, tu bổ đê điều, đường sá, cải tổ lại bộ máy hành chính trong cả nước… Từ 1082- 1101, ông thôi chức Tể tướng vào trông coi trấn Thanh Hóa. Khoảng 1010, lại được gọi về triều. Những năm cuối đời ông còn cầm quân dẹp giặc quẫy nhiều biên thùy phía Nam… Ông được lịch sử ghi nhận là một anh hùng dân tộc kiệt xuất, đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giữ gìn độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ.

      Văn nghiệp của Lý Thường Kiệt ngày nay chỉ còn được biết qua hai tác phẩm: một bài văn và một bài thơ. Bài văn Lộ bố khi đánh Tống (Phạt Tống lộ bố văn) còn lưu đến ngày nay là một trong số những bài hịch mà Lý Thường Lý Thường Kiệt đã gửi nhân dân các châu Ung, Khâm, Liêm vào năm 1075, trước khi đưa đại quân đến tiêu diệt các hậu cứ quân Tống ở đây. Bài văn nói rõ tính chính nghĩa của cuộc hành quân, vạch tội ác của triều đình Tống, đề cao lý tưởng lấy dân làm trọng, và tuyên bố rõ lập trường quang minh chính đại, không xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc, chỉ cốt diệt trừ âm mưu xâm lược của triều đình Tống.

      Còn bài thơ – mà nay mọi người gọi tên là “Nam quốc sơn hà” - được coi là của Lý Thường Kiệt thì tính chính xác của xuất xứ, tác giả và văn bản cũng còn cần nghiên cứu thêm mới khẳng định được.

    7. 011.Phải chăng vua bà Lý Chiêu Hoàng có một nơi thờ duy nhất ở nội thành Hà Nội?

      Đúng! Kỷ nguyên Đại Việt kéo dài bảy tám thế kỷ, trải từ đời Lý đến đời Hậu Lê mà chỉ có một đời vua bà. Người phụ nữ duy nhất làm vua đó trị vì thiên hạ tính theo năm là 2 năm nhưng thực tế chỉ có 12 tháng, từ tháng 10 năm Giáp Thân (1224) đến tháng 12 năm Ất Dậu (1225). Đó là Lý Chiêu Hoàng.

      Tháng 12 năm Ất Dậu, do sự xếp đặt của Trần Thủ Độ, vua bà này (gọi là cô thì phải hơn vì mới 8 tuổi) lấy chồng và nhượng ngôi ngay cho chồng là Trần Cảnh - con trai thứ của Trần Thừa, anh Trần Thủ Độ - lúc đó cũng mới 8 tuổi. Ngôi vua từ họ Lý chuyển sang họ Trần một cách êm ả. Nữ hoàng Chiêu Hoàng trở thành hoàng hậu Chiêu Thánh.

      Sau đó tới chục năm, hoàng hậu không sinh đẻ, nên một lần nữa, vì lo cho sự lâu dài của họ Trần, Thủ Độ lại ép Trần Cảnh phải bỏ Chiêu Thánh để lấy chị gái của bà là Thuận Thiên, vợ của Trần Liễu (anh của Trần Cảnh) và đang mang thai. Chiêu Thánh lúc này mới 20 tuổi!

      Phải tới hai chục năm nữa hạnh phúc mới thật sự đến với bà. Số là năm 1258, sau khi dẹp được giặc Nguyên xâm lược, bà được gả cho vị tướng có công đầu trong cuộc chiến là Lê Phụ Trần. Họ sống với nhau thuận hoà, Chiêu Thánh sinh được hai con, một trai một gái. Bà qua đời năm 61 tuổi, tương truyền mái tóc vẫn đen và đôi má vẫn màu hoa đào.

      Có lẽ vì những khúc quanh trong cuộc đời của bà như vậy mà ở quê gốc của họ Lý là làng Đình Bảng (Hà Bắc) đền Lý Bát Đế chỉ thờ 8 vị vua nam giới. Còn vị vua nữ cuối cùng này thờ riêng ở ngôi miếu nhỏ nằm khiêm tốn bên phải đền.

      Tuy nhiên, Lý Chiêu Hoàng lại có nơi thờ ở giữa nội thành Thăng Long, đó là đền làng Yên Thành. Làng này là một trong số 8 làng có tên gọi bắt đầu bằng chữ Yên thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận xưa. Tám làng đó nằm kẹp giữa phía nam là tường thành Hà Nội (nay là phố Phan Đình Phùng), phía Bắc là hồ Trúc Bạch và hồ Mã Cảnh (Cổ ngựa), phía đông là chỗ giáp ranh phường Hoè Nhai, phía tây là ranh giới phường Thuỵ Chương. Đó là tám làng (theo vị trí từ Đông sang Tây): Yên Thuận, Yên Ninh, Yên Thành, Yên Viên, Yên Canh, Yên Diên, Yên Định và Yên Quang. Làng Yên Thành nay là khu vực có phố Phan Huy Ích, có đoạn Nguyễn Trường Tộ, một đoạn phố Hàng Bún. (Hồ Mã Cảnh thì bị lấp từ những năm cuối cùng của thế kỷ XIX để làm các phố mới nay là Nguyễn Khắc Nhu- Phạm Hồng Thái - Nguyễn Trường Tộ…)

      Đến Yên Thành vốn là đình sau kiêm thờ mẫu, nay mang biển số nhà 28 Phan Huy Ích. Đây là một công trình kiến trúc khiêm tốn nhưng có nhiều hiện vật quý. Một khánh đá núi Nhồi (Thanh Hoá) có hoa văn đời Nguyễn. Một chuông đồng đúc năm Mậu Dần. Một bức hoành phi Thánh Cung vạn tuế chỉ rõ căn cốt là một ngôi đình làng. Ngoài ra, trong đền này còn có những câu đối có niên hiệu Tự Đức Bính Tý tức năm 1876:

      Long Đỗ quyết linh từ, hưởng báo từ thời yên bất tuyệt
      Mã Cảnh di thắng tích, lưu phương thiên cổ thuỷ trường


      Nghĩa là:

      Đền thiêng ở cửa ngõ thành Long Đỗ, việc dâng lễ báo ân bốn mùa khói hương chẳng dứt.
      Thắng cảnh còn lại bên hồ Cổ Ngựa - tiếng thơm lưu truyền ngàn thuở, nước luôn trong nẻo.


      Hoặc câu đối đời Tự Đức Kỷ Mão (1879):

      Vạn cổ linh quang hồ thượng miếu
      Thiên thu thắng tích nữ trung vương
      .

      Nghĩa là:

      Muôn thuở rạng rỡ linh thiêng là toà miếu bên bờ hồ (Cổ Ngựa).
      Nghìn năm di tích nổi danh (Ngài) là vị vua trong giới nữ.


      Những câu đối trên đã chỉ rõ địa điểm đền thờ (tức nay là phố Phan Huy Ích) nguyên là bên cạnh hồ Cổ Ngựa và là nơi thờ một vị vua bà. Đến Yên Thành như vậy là nơi duy nhất thờ Lý Chiêu Hoàng ở nội thành. Nếu kể cả vùng ngoại thành thì ở Hà Nội cũng chỉ có thêm một nơi nữa thờ bà. Đó là làng Giao Tự nay thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm. Tương truyền đây là đất thái ấp của bà.

    8. 012.Công việc trồng trọt, chăn nuôi, chài lưới của người Hà Nội thời kỳ tiền sử như thế nào?

      Người Hà Nội ngày ấy trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Trồng trọt chủ yếu là trồng lúa. Tại di chỉ Đình Chàng và Đường Mây (Đông Anh) đã tìm thấy vết tích của vỏ trấu. Trong lòng đất có nhiều di vật như rìu đá, rìu đồng là những công cụ giúp dân khai phá rừng hoang mở rộng đồng bằng. Ở Gò Chùa Thông (Thanh Trì) tìm thấy lưỡi liềm đồng. Đó là bằng chứng về một nền nông nghiệp phát triển sớm của vùng Hà Nội cổ. Lưỡi cày đồng thấy ở Cổ Loa, có kích cỡ lớn, tác dụng lật đất tốt. Hàng loạt xương trâu, bò, chó nhà, lợn nhà… tìm được ở Đồng Vông, Đình Chàng (Đông Anh) và Gò Chùa Thông cho thấy một nền nông nghiệp dùng cày, có sức kéo của trâu bò. Ngoài đồng lúa, còn có trồng đậu, khoai lang, các cây ăn quả như: na, trám… Chăn nuôi cũng đã trở thành loại hình kinh tế quan trọng. Những dòng sông chảy ven làng mang lại cho đời sống chảy ven làng mang lại cho đời sống người dân ở đây một nguồn cá tôm đáng kể. Đây chính là cơ sở cho nghề chài lưới phát triển. Nhiều chì lưới bằng đá, đất nung, vết tích sau bữa ăn như xương cá đã tìm thấy ở Đồng Vông (Đông Anh).

    9. 013.Hà Nội có những di vật đồ đá đúng không?

      Đúng! Di vật đầu tiên phải kể đến là những viên đá cuội có dấu vết ghè đẽo của bàn tay con người tìm thấy ở xã Cổ Loa (huyện Đông Anh). Đây là những công cụ chặt, nạo của người nguyên thuỷ sống ở cuối thời đại đồ đá cũ cách ngày nay khoảng hai vạn năm. Ngoài ra còn có nhiều di vật bằng đá khác ở các thời kỳ muộn hơn như: lưỡi rìu có nhiều loại tìm thấy ở Văn Điển, Triều Khúc (huyện Thanh Trì) được mài sắc và nhẵn dùng để phát cây phá rừng, lưỡi đục tìm thấy ở Văn Điển, Đồng Vông, Tiên Hội (huyện Đông Anh). Đây là những công cụ dùng trong nghề mộc để dựng nhà, đóng thuyền. Chì lưới được làm bằng đá tìm thấy ở Đồng Vông, Bãi Mèn, Đình Chàng (huyện Đông Anh). Ngoài ra, còn nhiều di vật khác như mũi khoan, bàn mài, vũ khí như giác đá, mũi tên đá và khá nhiều đồ trang sức và các tác phẩm nghệ thuật như: vòng đeo tay, vòng tai, nhẫn, chuỗi hạt đeo cổ, cúc áo, tượng người đầu trâu… tìm thấy ở Văn Điển, Triều Khúc, Đình Chàng.

    10. 014.Trên đất Hà Nội ngày nay có dấu tích của một người anh hùng truyền thuyết đầu tiên chống giặc ngoại xâm, đó là ai?

      Đó là chàng Dóng, được tôn vinh là Phù Đổng thiên vương, quê quán ở làng Dóng, tức làng Phù Đổng nay thuộc huyện Gia Lâm - ngoại thành Hà Nội. Theo truyền thuyết, vào đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân kéo sang xâm lược nước Văn Lang. Nhà vua lo lắng cho sứ giả đi rao tìm người tài giỏi ra giúp nước.

      Lúc bấy giờ ở làng Phù Đổng, có một cậu bé lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói. Khi sứ giả đến làng, cậu bé bỗng nhỏm dậy và bật nói, xin vua ban một ngựa sắt và một roi sắt để đi diệt giặc. Sau đó, Dóng lớn như thổi, một mình ăn hết 3 nong cơm, 1 nong cà và vươn vai trở thành một chàng trai dũng mãnh. Chàng cưỡi ngựa sắt dùng roi sắt đánh tan quân thù. Khi giặc tan chàng phi ngựa lên núi Sóc và bay lên trời. Nhờ công ơn chàng Dóng, dân làng đã lập đền thờ. Tại đây hàng năm có mở hội lớn, tục gọi là hội Dóng vào ngày 8-4 âm lịch, diễn lại tích Thánh Dóng dẹp giặc Ân. Hội rất hùng tráng thu hút hàng vạn người về xem.


      Hội làng Dóng

    11. 015.Xin nói về lộ trình dời đô của Lý Thái Tổ. Ông đã đi đường nào để ra Thăng Long?

      Trước hết, xin nhắc lại một đoạn trong bộ sử Toàn thư:

      “Mùa thu, tháng bảy năm Canh Tuất (1010) vua dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự do đó đổi gọi là thành Thăng Long”.

      Như thế thì vua Lý đã đi bằng thuyền và vào cuối mùa hè, hẳn là ông lợi dụng mùa nước lên để không lo bị mắc cạn, cũng như mùa gió nồm để buồm căng, đỡ công chèo chống. Và một vị vua trí lự như Lý Công Uẩn thì không tội gì lại vòng vo đi ra biển qua cửa Đại An để rồi mới lên cửa Ba Lạt vào sông Hồng, cho dù ngày đó biển có gần nhưng cũng là xa xôi diệu vợi, lại thiếu an toàn. Ông tất đã chọn một lộ trình ngắn nhất, an toàn nhất. Do đó chỉ có dùng các đường sông quen nhất, an toàn nhất. Do đó chỉ có dùng các đường sông quen thuộc hiện hữu thời đó và phải là con đường ngắn nhất.



      Sơ đồ các sông liên quan đến lộ trình dời đô của Lý Thái Tổ

      Vua Lý đi thuyền, thế tất phải từ thành nội Hoa Lư theo dòng Sào Khê ra sông Hoàng Long (tất nhiên ngày đó Sào Khê và Hoàng Long chưa cạn và hẹp lòng như ngày nay). Từ Hoàng Long thuyền vua ra sông Đáy rồi ngược lên Bắc. Tháng 7 âm lịch, gió nồm, đi ngược sông không khó khăn gì. Tới chỗ nay là thị xã Phủ Lý gặp sông Châu. Kỳ thực, đây là một khu ngã tư sông, vì sông Đáy qua vùng chùa Hương chảy về tới đây thì đón nước sông Nhuệ từ phía cầu Giẽ chảy xuôi hoà nhập vào đồng thời tách ra sông Châu Giang. Như vậy, nước sông Châu là do cả sông Đáy, sông Nhuệ cung ứng. (Đây là viết theo mục “Sông Châu” trong phần “Hà Nội”của sách Đại Nam nhất thống chí. Song cũng sách này ở mục “sông Nhị” lại nói sông Nhị (tức sông Hồng) đến Yên Lệnh tách ra một nhánh là sông Châu. Như thế thì sông Châu cũng nhận nước sông (vấn đề cần tìm hiểu thêm). Kể ra thì có thể theo sông Nhuệ nhỏ hơn sông Hồng, lai nhiều khúc cong, giảm tốc độ lộ trình. Trong khi sông Hồng rộng rãi, cho nên theo sông Châu ra sông Hồng hợp lý hơn. Chỗ ngã ba sông Đáy- sông Châu đó nay là nơi giáp ranh ba đơn vị hành chính: phường Lương Khánh Thiện của thị xã Phủ Lý, Thôn Ba của xã Phù Vân (huyện Kim Bảng). Châu Giang nay là một con sông đang thoi thóp thở, vì nó không còn có thể gặp sông Hồng được. Trước đây, sông Châu là một con sông cũng khá lớn, nay cứ quan sát những vạt ruộng hai bờ sông sẽ thấy những nơi thấp, chính là một phần của dòng sông thời xưa. Sông chảy về phía Đông đổ ra sông Hồng không chỉ một nhánh. Từ Phủ Lý đến nơi giáp ranh xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên) và xã Nghĩa Bình (huyện Bình Lục) sông Châu đúng chỉ là một nhánh. Nhưng từ đây tách làm hai. Một nhánh chảy ngược lên phía Bắc tới nơi giáp ranh hai xã Yên Nam và Trác Văn (Duy Tiên) thì quặt sang đông, đổ vào sông Hồng ở chỗ nay là xóm Tắc Giang, thôn Lỗ Hà, xã Chuyên Ngoại làm ranh giới chia hai huyện Duy Tiên và Lý Nhân. Một nhánh từ xã Bình Nghĩa chảy xuôi về Đông Nam làm ranh giới tự nhiên cho hai huyện Bình Lục và Lý Nhân để rồi đổ ra sông Hồng ở xã Hòa Hậu (Lý Nhân). Nay nhánh sông phía trên đã bị con đê đắp sau này chặn lại. Ở phía dưới cũng đã xây cống và trạm bơm. Nhưng cách đây nghìn năm thì sự thông thương trên sông là tất nhiên. Thuyền nhà Lý đã theo một trong hai nhánh sông Châu Giang để ra Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân và thị xã Phủ Lý nay đều thuộc tỉnh Hà Nam.)

      Ra tới sông Hồng thì nhằm hướng Bắc mà thẳng tiến, theo độ dài sông nước ngày nay thì vào khoảng sáu chục kilomet là tới thành Đại La. Thực ra sông Châu là một huyết mạch quan trọng, tính từ thượng nguồn đây là con sông đầu tiên nối sông Hồng với sông Đáy. Trên triền sông là khu tự cư cổ, có hàng loạt trống đồng ở đó, như trống Ngọc Lũ, Vũ Bị, An Lão, lại có chùa Đọi là ngôi chùa lớn thời Lý.

      Ngoài ra, sông Hồng ngày ấy cũng trọng yếu nên năm 981 khi tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo xâm lược thì đã phái Trần Khâm Tộ đem chiến thuyền đến Tây Kết (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) tức cách cửa sông Châu khoảng 20 km về phía Bắc. Có thể là Khâm Tộ đợi chiến thuyền Lưu Trùng đến rồi tiến đánh Hoa Lư bằng đường thủy qua sông Châu – sông Đáy. Năm 987 vua Lê Đại Hành từng đi cày tịch điền ở núi Đọi tất phải đi thuyền theo sông Đáy, sông Châu. Năm 1044, khi Lý Thánh Tông đánh chime cũng từ Thăng Long ra cửa sông Đáy để ra biển vào Nam tức cũng khởi hành từ sông Hồng. Lúc về ông có qua Hoa Lư, qua hành cung Ly Nhân, xây lại đất Ly Nhân bờ sông Châu (tên gọi ngày ấy của huyện Lý Nhân bây giờ), do vậy nên mới có chuyện nàng My Ê tuẫn tiết (Nay là làng Lý Nhân, xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân còn đền thờ My Ê). Như vậy cũng theo sông Đáy – sông Châu ra sông Hồng.

      Sông Hoàng Long - sông Đáy - sông Châu - sông Hồng, đó là lộ trình dời đô của Lý Công Uẩn.

    12. 016.Thời nhà Trần, Thăng Long mấy lần bị quân Nguyên chiếm đóng?

      Cả ba lần quân Nguyên sang xâm lược nước ta, chúng đều có vào Thăng Long. Nhưng chính ở Thăng Long hoặc là chúng trực tiếp bị đánh bật hoặc là buộc phải rút bỏ.

      - Lần đầu vào ngày 18-1-1258, Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) theo đường sông Hồng từ Vân Nam xuống. Khi chúng tràn qua Thăng Long thì cả đô thành bị tiêu thổ, vườn không nhà trống.

      Chiến lược đánh nhanh, cướp lương thực tại chỗ bị phá sản, 11 ngày sau (29-2-1258), quân ta phản công đánh vào Đông Bộ đầu nay là dốc Hàng Than. Quân giặc thua, rút chạy dài về Vân Nam. Trên đường tháo than, chúng đói và khiếp sợ đến nỗi không còn tinh thần để cướp bóc nên dân ta chế giễu chúng là “giặc Phật”.

      - Lần hai, vào ngày 19-2-1985 sau nhiều trận đánh, Thoát Hoan (To-gou) mới vào được Thăng Long. Nhưng lại vẫn là vườn không nhà trống. Tiếp đó, giặc bị quân ta giáng cho những đòn chí tử ở A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử… và khoảng ba tháng sau, quân Trần tiến về Thăng Long, đánh đồn Giang Khẩu (khu vực Hàng Buồm - Nguyễn Siêu) buộc Thoát Hoan phải rút quân, chui vào ống đồng mới thoát chết.

      - Lần ba, ngày 2-2-1288 Thoát Hoan chiếm Thăng Long. Vẫn là một ngôi thành trống trơn. Giặc đánh tỏa ra một số nơi nhưng không làm gì được vua quan tướng sĩ nhà Trần. Rồi nạn thiếu lương thực xảy tới. Thế là sau một tháng chiếm đóng, ngày 5-3-1288 giặc phải bỏ thành rút quân.
       
    13. 017.Nói Hà Nội có 5 cửa ô, đúng không?

      Không đúng! Chỉ nói ngày nay, mọi người Hà Nội đều có thể nêu lên chí ít là 7 cửa ô: Ô Yên Phụ, Ô Cầu Giấy, Ô Chợ Dừa, Ô Đồng Lầm, Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác, Ô Quan Chưởng.

      Thực ra, cửa ô còn nhiều hơn.Nhưng trước hết cần thống nhất xem thế nào là cửa ô?

      Sử ghi rằng vào năm 1749, chúa Trịnh Doanh cho đắp một toà thành đất bao bọc kinh đô Thăng Long, gọi là thành Đại Độ, có mở 8 cửa ô để qua lại. Chưa biết vị trí và tên gọi của 8 cửa này. Chỉ biết là mỗi cửa, ngoài ô cửa chính ở giữa, hai bên có hai ô cửa phụ. Vậy cửa ô là cửa xẻ qua toà thành đất bao bọc kinh thành Thăng Long. Đến đầu thế kỷ XIX, sách Bắc Thành địa dư chí cho biết Hà Nội có 21 cửa ô. Đến năm 1831, khi có bản đồ Hoài Đức phủ thì chỉ thấy còn 16 cửa ô. Đến bản đồ vẽ năm 1866 chỉ còn 15 cửa ô. Như vậy cho đến năm 1866 và cho đến tận đầu thời Pháp thuộc - trước khi thực dân cho phá toà thành này (cũng như phá toà thành gạch) để mở đường phố mới và lấy đất lấp các ao hồ - thì Hà Nội có 15 ô cửa, mỗi cửa ô có hình dáng như cửa ô Quan Chưởng còn sót lại tới ngày nay.

      Thuở xưa ở mỗi cửa ô thường xuyên có lính gác. Năm 1782 Lê Hữu Trác từ Hà Tĩnh ra Hà Nội, đi qua cửa ô Cầu Dền có tả như sau:

      “Thấy một toà thành đất, không cao lắm. Trên thành là đường xe ngựa đo. Ngoài là hàng rào tre. Dưới chân là hào sâu, có thả đầy chông. Thành có 3 vọng canh, nơi nào cũng có lính sắp hàng gươm dáo sáng quắc”

      (Thượng kinh ký sự)



      Thành Hà Nội thời Nguyễn với 16 cửa ô của thành ngoài vẽ năm 1831

      Tóm lại Hà Nội có nhiều cửa ô, tuỳ từng thời, lúc mở thêm, lúc lấp lại và nay tên gọi để lại còn nhiều nhưng di tích một cửa ô thực sự thì chỉ có cửa ô Quan Chưởng là còn phần nào bóng dáng xưa mà thôi.

    14. 018.Tại sao lại gọi là Ô Quan Chưởng?

      Cửa ô này nguyên là một trong số nhiều cửa xẻ qua thân toà thành đất bao bọc kinh đô Thăng Long. Toà thành này đã bị phá đầu thời Pháp thuộc, do đó các cửa ô cũng bị phá theo, chỉ còn sót lại cửa ô Quan Chưởng. Hiện cửa còn nguyên một ô cửa chính và hai ô phụ hai bên. Trên nóc ô cửa chính là một vọng lâu. Cửa ô vốn có lính gác. Bên tường phía Bắc hiện còn gắn một tấm bia khắc năm 1882 ghi lệnh của Tổng đốc Hoàng Diệu cấm lính sắc nhiễu những đám tang đi qua cửa ô (vì nếu không cho tiền chúng không mở cửa).

      Còn tên gọi thì đến nay vẫn chưa thể giải thích chính xác vì có tới 3 giả thuyết nhưng đều thiếu chứng cứ:

      1. Cho rằng cuối đời Lê có một quan Chưởng ấn lập dinh cơ ở cạnh ô nên do đó mà thành tên.

      2. Cho rằng vào đời Nguyễn có một quan Chưởng cơ đóng ở gần cửa ô kiểm soát thuyền bè qua lại ngã ba sông Hồng - sông Tô, nên dân sở tại theo đó mà gọi tên.

      3. Hồi Pháp đánh Hà Nội năm 1873 có một quan Chưởng vệ đã hi sinh tại cửa ô này trong chiến đấu.



      Cả ba cách giải thích đều là truyền thuyết chứ không có tài liệu cụ thể.Có lẽ cái tên chính xác phải là hàng chữ Hán khắc trên vòm cửa hiện vẫn còn tồn tại: Đông Hà môn tức cửa Đông Hà. Đông Hà nguyên là một phường tương ứng khu vực Hàng Chiếu, Thanh Hà, Đào Duy Từ ngày nay. Cửa ô Quan Chưởng nằm trên đất phường Đông Hà.

    15. 019.Thế nào là “Hà Nội 36 phố phường”?

      Nội thành Hà Nội hiện nay có 7 quận gồm 102 phường, tức 102 đơn vị hành chính cấp cơ sở với trên 400 phố và ngõ.

      Nhưng đó là phường và phố Hà Nội hiện nay. Còn ca dao cổ có câu:

      Hà Nội băm sáu phố phường.
      Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh…

      Câu ca dao đó nay ai cũng thuộc nhưng không chính xác!

      Thực ra, phố và phường là hai phạm trù khác nhau.

      Vào thời Lê, phường ngoài nội dung chỉ các tổ chức của những người cùng làm một nghề (phường chèo, phường thợ) thì còn một nội dung nữa, chỉ những khu vực địa lý được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long. Sử cũ còn ghi Thăng Long đời Lê gọi là phủ Phụng Thiên. Chia ra hai huyện Vĩnh Xương (sau đổi ra Thọ Xương) và Quảng Đức (sau đổi ra Vĩnh Thuận). Mỗi huyện 18 phường. Như vậy, Thăng Long có 36 phường. Suốt ba thế kỷ, nhà Lê vẫn giữ nguyên sự phân định hành chính đó.

      Sang đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đổi Thăng Long là phủ Hoài Đức và chia nhỏ ra làm nhiều đơn vị mới, có tên gọi là phường, thôn, trại. Huyện Thọ Xương bị chia ra làm 8 tổng với 183 phường, thôn, trại; huyện Vĩnh Thuận bị chia ra làm 5 tổng với 56 phường, thôn, trại. Tổng cộng phủ Hoài Đức, tức kinh thành Thăng Long cũ, gồm 13 tổng, 239 phường, thôn, trại.

      Đến khoảng giữa thế kỷ XIX hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận vẫn y nguyên 13 tổng nhưng con số các phường, thôn, trại rút xuống mạnh (do sát nhập): Thọ Xương còn 113 phường, thôn, trại. Vĩnh Thuận còn 40 phường, thôn, trại. Tổng cộng là 153 phường, thôn, trại. Như vậy là nhà Lê cho Thăng Long hưởng một quy chế riêng (gọi là Phủ, trực thuộc trung ương và suốt ba thế kỷ chỉ gồm có 36 phường). Ngược lại, nhà Nguyễn đã đánh đồng Thăng Long với các phủ khác, phải lệ thuộc vào tỉnh và cũng có tổng, có thôn, có trại như mọi nơi. Đó là một việc làm của chủ trương “hạ cấp” Thăng Long.

      Như thế, không làm gì có cái gọi là “Hà Nội 36 phố phường”. Chỉ có Thăng Long thời Lê có 36 phường hoặc là Hà Nội thời Minh Mạng có 239 phường, thôn, trại và Hà Nội thời Tự Đức với 153 phường, thôn, trại. Do tình hình chia nhỏ Thăng Long nên một phường đời Lê đã phân ra làm nhiều phường, thôn, trại thời Nguyễn.

      Bây giờ sang vấn đề phố. Phố khác hẳn phường. Nếu phường nguyên nghĩa là một khu vực hành chính thì phố nguyên nghĩa là chỗ bán hàng, nơi bày hàng, tức là như ta nói ngày nay là cửa hàng, cửa hiệu. Phố có thể là một ngôi nhà bày bán hàng mà cũng có thể ban đầu chỉ là một chỗ trống nhưng lấy làm nơi bày hàng hoá để buôn bán. Cho nên ví dụ như cụm từ phố Hàng Trống nguyên nghĩa chỉ là một ngôi nhà, một cửa hàng có bán mặt hàng là trống. Cũng vậy phố Hàng Chiếu vốn chỉ là một nhà có bán mặt hàng chiếu… Song do các “phố” tập trung ken sát nhau thành một dãy (dài hoặc ngắn là tuỳ) nên cái dãy gồm nhiều phố ấy (phố với nghĩa là cửa hàng, cửa hiệu) cũng được gọi tắt là phố. Và dần dần cái từ phố mới biến nghĩa là một dãy các cửa hàng cửa hiệu đã lấn át cái từ phố có nguyên nghĩa là một ngôi nhà bày bán hàng. Và thế là thay vì nói dãy phố Hàng Chiếu, dãy phố Hàng Bạc… để chỉ những con đường mà hai bên là những ngôi nhà bày bán chiếu, bán vàng bạc… Hiện nay trong ngôn ngữ miền Bắc, từ phố với nguyên nghĩa là ngôi nhà, cửa hàng đã phai mờ hoàn toàn, song miền Trung, miền Nam thì lớp trung niên trở lên vẫn sử dụng.

      Do sự hình thành như vậy mà trong một phường cổ có nhiều phố. Như trong cùng phường Đông Các có phố Hàng Bạc, phố Hàng Mắm, phố Hàng Giày… Cho nên phường không bao giờ lại ngang hàng với phố mà là trùm lên các phố. Và cũng vì thế, 36 phố phường thời Lê không thể là 36 phố + phường được.

    16. 020.Toà thành hiện nay gọi là “thành cổ Hà Nội” có từ bao giờ? Qui mô? Hiện trạng?

      Đó là toà thành xây trong hai năm 1804-1805 và bị tàn phá cũng trong hai năm 1894-1895. Xây là do nhà Nguyễn (Gia Long); phá là do thực dân Pháp.

      Nhìn vào bản đồ Hà Nội hiện nay, thấy một ô vuông mà bốn cạnh là bốn đường Phan Đình Phùng (bắc), Hùng Vương (tây), Trần Phú (Nam), Phùng Hưng (đông). Đó là bốn mặt của toà thành nhà Nguyễn. Trong thành chia ra ba khu theo chiều dọc. Khu phía đông là các cơ quan đầu não của tỉnh Hà Nội: dinh Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát… nay là khu quân đội. Khu phía tây chủ yếu là kho tàng nay là phần nằm giữa hai đường Hùng Vương và Hoàng Diệu với những công sở và nhà ở. Đặc biệt lăng Bác là ở ngay cửa chính Tây. Trung tâm thành nay là khu vực nằm giữa hai đường Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Trên cái lõi này còn sót lại - từ Nam lên Bắc- năm di tích: Cột Cờ, cửa Đoan Môn, nền Hành cung, Hậu lâu và cửa chính Bắc. Cột cờ được xây cùng lúc với thành hoặc muộn hơn chút ít. Cửa Đoan Môn hiện còn, là xây cùng với thành, trên móng của cửa Đoan Môn các đời vua trước. Đoan Môn là cửa đi vào khu Cấm thành. Nền Hành cung cũng là nền điện Kính Thiên đời Lê. Hậu lâu có thể là toà nhà dành cho các phi tần tháp tùng vua nhà Nguyễn khi ra Bắc. Nhưng cuối thế kỷ XIX toà nhà này bị hư hỏng và nhà binh Pháp đã xây hoàn toàn mới song theo hình dáng kiến trúc cổ Việt Nam. Còn cửa chính Bắc thì đã bị phá mất vọng lâu.

      Hiện ngành văn hoá thành phố đang cố gắng tu sửa bốn trong năm di tích đó (trừ khu điện Kính Thiên đang thuộc quân đội sử dụng).

    17. 021.Thế nào là khu phố cổ và khu phố cũ?

      Đây là hai thuật ngữ mới ra đời khoảng mười lăm năm nay, từ khi người ta bắt đầu chú ý đến những di sản kiến trúc của thành phố. Nói khu phố cổ là nói khu vực mà đường, phố, nhà cửa theo kiểu cách cổ, bắt đầu hình thành từ ngàn năm xưa, chủ yếu là khu vực phía Bắc Hồ Gươm.

      Nói  khu phố cũ là nói khu vực mà đường phố nhà cửa do người Pháp quy hoạch và xây dựng, ra đời từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

      Phân biệt như trên cũng chỉ là ước lệ, một quy ước để tiện làm việc.

    18. 022.Phạm vi “khu phố cổ”. Đặc trưng?

      Từ năm 1995, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp bảo vệ, thành phố tạm thời quy định “khu phố cổ” nằm trong khu vực một hình gọi là tam giác, nhưng kỳ thực là hình thang, hai cạnh ngang là phố Hàng Đậu và dãy phố Hàng Bông - Hàng Gai - Cầu Gỗ - Hàng Thùng. Hai cạnh dọc là phố Trần Nhật Duật và dãy phố Hàng Cót - Hàng Gà - Hàng Điếu - Hàng Da.



      Khu vực này, cho tới trước khi có mặt người Pháp đều chung một dáng dấp: các phố hẹp, chi chít dọc ngang kiểu bàn cờ, phần lớn mang tên gọi của các mặt hàng sản xuất hay kinh doanh tại đó: Hàng Đường, Hàng Bạc… không rõ thời xa xưa thế nào, chỉ biết từ đầu thế kỷ XIX thì nhà hai bên đường đều theo kiểu “nhà ống”. nhà như một cái ống, bề ngang hẹp, chiều dài sâu.Bố cục đều tương tự: gian ngoài là chỗ bán hàng hoặc làm hàng, tiếp đến một sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Nhà trong mới là nơi ăn ở, nối vào đó là khu phụ. Đa số là một tầng, lợp ngói, hai tường hồi vượt cao xây giật cấp như những bực thang. Cũng có một số nhà thêm một tầng gác nhưng thấp và không mấy hàng, vừa là nơi sinh hoạt của gia đình. Tại khu phố dó người mua kẻ bán suốt ngày, cảnh tượng tấp nập. Cái hấp dẫn của khu phố cổ Hà Nội chính ở những chỗ đó, ở cái tổng thể do người xưa đã sắp xếp thành một cơ thể đầy sống động, khăng khít, gắn bó kề tựa nhau mà tồn tại, sinh sôi…

      Cũng phải kể tới những chùa-đình-đền-miếu rải rác trong nhiều đường phố, cổ kính và trang trọng. Đó là những bằng chứng của một khía cạnh tâm hồn người Hà Nội cũ: bên cạnh sự hoà đồng với cộng đồng xã hội, người Hà Nội luôn tìm cách hoà đồng với thế giới tâm linh, vì cùng với một không gian đô thị vật chất, vẫn tồn tại một không gian đô thị mang màu sắc huyền thoại, ẩn chìm và thiêng liêng, ở đó có thể giao hoà cùng quá khứ chứa chất sức mạnh tiềm ẩn.



      Khi Pháp tới, các phố cổ được uốn thẳng hơn, làm vỉa hè, và thêm các công trình hạ tầng. Tại đây, một số nhà được xây dựng lại kiên cố nhưng vẫn theo kiến trúc cổ. Một số xây dựng theo kiểu “Tây”, một hoặc hai tầng, chịu ảnh của vật liệu xây dựng mới và hình thức trang trí kiến trúc Châu Âu. Điều này có làm biến dạng song bóng dáng của một thời đã qua (ít ra là thế kỷ XIX) vẫn còn lưu lại ở cái không gian văn hoá đậm đà hương vị cổ. Vì vậy mà “khu phố cổ” (cổ đến đâu thì còn cần bàn thêm) vẫn là một kỷ niệm mà người xưa gửi cho người nay để rồi truyền cho đời sau.

    19. 023.Phạm vi “khu phố cũ”. Đặc trưng?

      Từ năm 1875, Pháp đã chiếm khu Đồn Thuỷ cũ làm nhượng địa và xây dựng những ngôi nhà theo kiến trúc Châu Âu. Từ năm 1883 Pháp chiếm hẳn Hà Nội. Năm 1886 đã có một quy hoạch cho thành phố Hà Nội mới. Ban đầu tập trung cải tạo khu quanh Hồ Gươm. Trên sát mái nhà số 3 Hàng Khay, nay vẫn mang dòng chữ 1886 là năm xây dựng. Sau đó có việc lấp ao hồ, lấp sông Tô rồi phá toà thành cổ. Do vậy, lần lượt xuất hiện các khu phố Tây, một là khu Nhượng địa, hai là khu thành cổ, ba là khu nam Hồ Gươm. Ba khu này nay gọi là “khu phố cũ”.

      1. Khu Nhượng địa hình chữ nhật, hai cạnh dài là đường Bạch Đằng và phố Lê Thánh Tông - Trần Nhân Tông, hai cạnh ngang là đoạn đầu phố Tràng Tiền và phố Nguyễn Huy Tự. Đây nguyên là đồn thuỷ quân của tỉnh Hà Nội cũ, tháng 8-1875 bị buộc phải nhượng hẳn cho quân đội Pháp xây doanh trại, dinh thự và bệnh viện. Đây là những công trình kiến trúc kiểu “chính thống”. Dinh Tổng tham mưu trưởng quân Pháp (nay là Nhà khách bộ Quốc phòng) còn mang trên nóc hàng chữ số ghi năm xây dựng 1874-1877. Bệnh viện Lanessan (nay là Quân y viện 108) được xây dựng năm 1892-1893.

      2. Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú. Vì việc giải phóng mặt bằng dễ dàng (đất trống) nên việc xây dựng có nhiều thuận tiện. Đường phố rọng, dài. Phủ toàn quyền nay là Phủ Chủ tịch xây dựng trong những năm 1902-1906. Các biệt thự ở đây thường theo kiến trúc miền Bắc nước Pháp, mái dốc, các chi tiết trang trí ở cửa, ở nóc diêm dúa, tỉ mỉ.

      3. Khu nam Hồ Gươm là một hình chữ nhật mà hai cạnh dài là Tràng Thi - Tràng Tiền và Trần Hưng Đạo, hai cạnh ngang là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Khu vực này được xây dựng đồng thời với khu thành cũ song quy trình có chậm hơn vì phải giải toả nhiều làng xóm. Nhà hát lớn xây từ 1902-1911. Một số công sở quy mô lớn, như Công ty hoả xa Vân Nam (nay là trụ sở Tổng công đoàn ở ngã ba Trần Hưng Đạo - Quán Sứ) xây dựng xong năm 1902, trường đại học ở phố Lê Thánh Tông xây năm 1904, Phủ Thống sứ (nay là Nhà khách Chính phủ số nhà 10 phố Ngô Quyền) xây năm 1919. Ở khu này, đa số cũng là biệt thự nhưng mái không dốc, nhiều cửa, theo kiến trúc miền nam Pháp.

      Ở cả ba khu trên, tới những năm 20 và 30 xuất hiện các công trình kiến trúc theo xu hướng kết hợp phong cách Á Đông. Một số có giá trị thẩm mỹ cao như Viện bảo tàng Finot (nay là Bảo tàng lịch sử) 1928-1932, Sở Tài chính (nay là Bộ Ngoại giao 1929-1932, Viện Pasteur 1930…). Cả ba khu trên nay được gọi là khu phố cũ. Đây cũng là một quỹ đô thị rất đặc trưng, quý giá của Hà Nội.

    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Quang Dương @ 02:21 15/12/2011
    Số lượt xem: 600
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cô giáo miền quê

    Kết quả thi HSG tỉnh TT Huế NH 2012-2013

    Kết quả thi HSG tỉnh TT Huế NH 2012-2013 .

    Kết quả thi HSG Toán và Tiếng Việt cấp Thị Xã NH 2012-2013

    Kết quả thi HSG TX NH 2012-2013 .